Mở rộng diện bao phủ BHYT: Vẫn cần những giải pháp bền vững

Thứ ba - 01/10/2019 14:47 31
Những năm gần đây, tỉ lệ bao phủ BHYT tăng khá nhanh, nhất là từ khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật BHYT có hiệu lực. Tuy nhiên, công tác phát triển đối tượng tham gia BHYT cần phát triển một cách bền vững.
Vẫn còn khó khăn, thách thức
Nếu năm 2012 cả nước có 58,97 triệu người tham gia BHYT thì đến năm 2017 đã đạt trên 79,95 triệu người tham gia và năm 2018 tỉ lệ bao phủ BHYT tiếp tục tăng lên 87,62% dân số- vượt mục tiêu đặt ra. Điều này cho thấy, việc phát triển đối tượng tham gia BHYT đã thực sự hiệu quả và nhu cầu KCB bằng thẻ BHYT cũng tăng nhanh trong thời gian qua. Trong đó, tốc độ gia tăng mạnh nhất là nhóm BHYT hộ gia đình (tự đóng góp) với tỉ lệ tăng 172%, sau đó đến nhóm NSNN hỗ trợ (tăng 22,3%), nhóm NSNN đóng góp (tăng 18,6%).
 
Người dân tìm hiểu về BHXH, BHYT
Bên cạnh sự hỗ trợ từ ngân sách Trung ương, một số tỉnh, thành phố đã sử dụng ngân sách địa phương để bổ sung, nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho một số nhóm đối tượng, như hỗ trợ 30% cho đối tượng HSSV, hỗ trợ 50% đối với người thuộc hộ gia đình làm nông- lâm- ngư nghiệp có mức sống trung bình. Ngoài nguồn thu từ tiền đóng BHYT, quỹ BHYT còn được bổ sung từ nguồn viện trợ của một số tổ chức quốc tế theo chương trình hỗ trợ y tế, tài trợ từ các DN, cộng đồng xã hội và lãi tiền gửi ngân hàng đối với phần kết dư từ quỹ.
Theo nhận định, diện bao phủ BHYT tăng nhanh một phần là do Luật BHYT quan tâm nhiều đến quyền lợi của người tham gia BHYT như người nghèo, người cận nghèo, đồng bào DTTS đang sinh sống ở vùng điều kiện kinh tế- xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn, thân nhân liệt sĩ, người có công. Cùng với đó, hệ thống chính sách BHYT được thiết kế dựa trên sự bắt buộc và hỗ trợ của Nhà nước, tập trung chủ yếu vào đối tượng lao động trong khu vực chính thức (có quan hệ lao động) và lao động yếu thế. Tuy nhiên, đến nay vẫn còn một khoảng trống lớn diện bao phủ là lao động khu vực phi chính thức (gần 13% dân số chưa tham gia BHYT)- chủ yếu là đối tượng tự đóng đang sinh sống ở khu vực nông thôn, người buôn bán nhỏ, lao động tự do, giúp việc gia đình tại các khu đô thị. Bên cạnh đó, vẫn còn một số địa phương có tỉ lệ tham gia BHYT thấp so với mức bình quân chung của cả nước.
Bên cạnh đó, nguồn tài chính thực hiện BHYT phụ thuộc quá nhiều vào NSNN. Hiện NSNN đóng và hỗ trợ cho trên 60% số người tham gia BHYT nên số người tự đóng BHYT chỉ chiếm tỉ lệ rất khiêm tốn. Đây là thách thức lớn đối với việc đảm bảo tính bền vững của nguồn quỹ trong thực hiện chính sách BHYT. Kể cả khi Nhà nước đã tăng mạnh về diện hỗ trợ cũng như mức hỗ trợ thì vẫn còn khoảng 11% số người chưa tham gia BHYT.
Nguyên nhân dẫn đến những tồn tại trên là do vẫn còn một số cấp ủy chưa quan tâm đúng mức công tác tuyên truyền; hình thức tuyên truyền tại một số nơi thiếu hấp dẫn, còn mang tính hình thức; công tác phối hợp từ Trung ương đến địa phương cũng như giữa các cơ quan, ban ngành, đoàn thể có nơi, có lúc chưa chặt chẽ, chưa hiệu quả...
Sửa đổi chính sách để tăng diện bao phủ
Những năm gần đây, quản lý chi phí BHYT về giá thuốc và vật tư y tế đã dần đi vào nề nếp, tiết kiệm hơn. Quyền lợi của người tham gia BHYT được mở rộng hơn trước như: Bỏ quy định cùng chi trả đối với một số đối tượng, nâng mức chi trả đối với người nghèo, cận nghèo, người tham gia 5 năm liên tục… Tuy nhiên, khả năng cân đối quỹ phụ thuộc rất lớn vào cải cách chính sách y tế, chính sách viện phí, tác động của giá thuốc, vật tư y tế, mức đóng của người tham gia BHYT, đặc biệt đối với phần đóng và hỗ trợ từ NSNN… Do đó, rất khó khăn trong việc dự báo tình hình cân đối quỹ trong dài hạn. Tình trạng lạm dụng quỹ BHYT ở cơ sở KCB cũng như đối tượng thụ hưởng chính sách ngày càng tinh vi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc cân đối quỹ. Ngoài ra, tình trạng nợ đóng, trốn đóng BHYT cho NLĐ chưa được xử lý hiệu quả, hiệu lực pháp luật chưa cao.
 
Một cuộc hội thảo về chính sách BHYT do Khoa Bảo hiểm (Đại học KTQD) tổ chức
Vì vậy, để đạt mục tiêu bao phủ BHYT toàn dân, ông Nguyễn Thành Vinh- Khoa Bảo hiểm (ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội) cho rằng, cần tăng cường công tác truyền thông nhằm nâng cao sự hiểu biết của người dân về quyền lợi và cách sử dụng BHYT; mở rộng đối tượng tham gia thông qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ y tế và gắn BHYT với chi phí hợp lý, hiệu quả. Cần phải cân đối được giữa 2 mục tiêu là khả năng bảo vệ người tham gia BHYT trước các rủi ro của bệnh tật và đói nghèo; đồng thời với khả năng duy trì sự bền vững, ổn định của quỹ BHYT. “Đây không phải là những thử thách dễ vượt qua, nhưng sự quyết tâm của Việt Nam trong thực hiện mục tiêu BHYT toàn dân và những thành quả đạt được đã cho thấy một tương lai tốt đẹp hơn phía trước”- ông Vinh khẳng định.
Bà Trịnh Chi Mai- Khoa Tài chính (Học viện Ngân hàng) cũng nhận định, để đạt trên 90% dân số tham gia BHYT đến năm 2020 theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ (trong đó tập trung vào những người đang sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, người có mức thu nhập không ổn định), cần tăng cường công tác tuyên truyền, vận động mọi người dân tham gia vào chính sách này; tăng cường tính hấp dẫn của BHYT và kết hợp với những giải pháp cụ thể phù hợp với từng nhóm đối tượng. BHXH các tỉnh, thành phố cần xác định rõ đối tượng tuyên truyền có trọng tâm, trọng điểm; xây dựng nội dung, hình thức tuyên truyền phù hợp. Với nhóm NLĐ trong các DN, sẽ thanh kiểm tra, xử lý nghiêm những DN vi phạm… Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng KCB BHYT, bảo đảm quyền lợi và đáp ứng nhu cầu KCB của người tham gia; từng bước đổi mới cơ chế tài chính theo hướng đầu tư trực tiếp cho người thụ hưởng dịch vụ y tế thông qua hình thức hỗ trợ tham gia BHYT, phấn đấu giảm tỉ lệ chi tiêu y tế trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình xuống dưới 40% vào năm 2020.
Tại Hội thảo “BHYT toàn dân tại Việt Nam” do Trường ĐH Kinh tế Quốc dân Hà Nội tổ chức mới đây, các đại biểu cũng đều chung nhận định, để tăng diện bao phủ BHYT và hướng tới sự phát triển bền vững, Quốc hội và Chính phủ cần sớm sửa đổi những quy định còn bất cập trong tổ chức thực hiện chính sách BHYT. Đặc biệt, cần có cơ chế kiểm soát hiệu quả chi KCB đối với cơ sở y tế, chính sách thông tuyến, chi phí KCB đối với người tham gia 5 năm liên tục; thiết kế Luật BHYT có thêm lựa chọn cho người tham gia, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội, đảm bảo công bằng, trách nhiệm trong đóng góp và thụ hưởng, giảm sự chênh lệch quyền lợi…
Nhiều đại biểu cũng cho rằng, Chính phủ nên xem xét phương án cấp thẻ BHYT cho NLĐ tham gia BHXH tự nguyện, do 2 chính sách trùng đối tượng tham gia, cùng do cơ quan BHXH quản lý. Thực hiện được vấn đề này sẽ khuyến khích, làm tăng nhanh diện bao phủ BHXH, BHYT, nhất là đối với lao động khu vực phi chính thức; cũng như tăng cường kết nối và hỗ trợ lẫn nhau giữa hai chính sách trên. Bên cạnh đó, Luật BHYT sửa đổi cũng cần có chế tài nghiêm minh đối với những trường hợp không tham gia BHYT, bởi dù Luật BHYT năm 2015 quy định BHYT là hình thức bắt buộc đối với các đối tượng tham gia nhưng chưa quy định chế tài cụ thể đối với người không tham gia BHYT theo từng nhóm đối tượng…
Nguyệt Hà
“Báo BHXH”

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây