“Luồng gió mới” an sinh

Thứ hai - 04/03/2019 05:26 24
Nghị quyết 28-NQ/TW về cải cách chính sách BHXH thực sự như một luồng gió mới, giúp cho người dân phấn chấn hơn, nhất là khi Nghị quyết hướng tới mục tiêu từng bước mở rộng vững chắc diện bao phủ BHXH, hướng tới BHXH toàn dân.
Tiến bộ, tiệm cận với thế giới
Chia sẻ với phóng viên Báo BHXH, ông Phạm Trường Giang- Vụ trưởng Vụ BHXH (Bộ LĐ-TB&XH), Tổ trưởng Tổ biên tập Đề án cải cách chính sách BHXH cho rằng, không chỉ các chuyên gia trong nước mà các chuyên gia của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đánh giá cao nội dung cải cách chính sách BHXH của Việt Nam. Theo đó, những cải cách này được coi là tiến bộ nhất so với các nước trong khu vực, tiệm cận với các tiêu chuẩn về an sinh xã hội trong các Công ước và Khuyến nghị của ILO. Những điểm mới về tư duy nhận thức trong cải cách chính sách BHXH thể hiện toàn diện trong quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nội dung cải cách cũng như các nhiệm vụ, giải pháp.
 
 Chi trả lương hưu cho người thụ hưởng
Dẫn giải về những tiến bộ, ông Giang chỉ rõ, nội dung cải cách theo Nghị quyết 28 được nhìn nhận toàn diện từ yếu tố đầu vào: Số người tham gia BHXH so với lực lượng lao động trong độ tuổi (35% lực lượng lao động tham gia BHXH vào năm 2021; 45% vào năm 2015 và 60% vào năm 2030); cho đến yếu tố đầu ra là số người sau độ tuổi nghỉ hưu được hưởng lương hưu (45% người về hưu được hưởng lương hưu vào năm 2021; 55% vào năm 2025 và 60% vào năm 2030). Mục tiêu cải cách không chỉ quan tâm đến lao động khu vực chính thức mà còn chú trọng đến lao động là nông dân, lao động khu vực phi chính thức. Đáng chú ý, việc cải cách còn chú trọng cả đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách thông qua việc quan tâm nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ, hướng tới sự hài lòng của người tham gia BHXH (đạt 80% vào năm 2021; 85% vào năm 2025 và 90% vào năm 2030).
Cũng liên quan vấn đề này, ông Doãn Mậu Diệp- Thứ trưởng Bộ LĐ-TB&XH khẳng định: Lần đầu tiên, chúng ta coi phạm vi BHXH không chỉ bao gồm những quan hệ đóng- hưởng trực tiếp vào quỹ BHXH mà còn bao gồm cả những quan hệ đóng- hưởng gián tiếp vào NSNN. Theo đó, với hệ thống BHXH đa tầng, NSNN sẽ cung cấp một khoản trợ cấp cho người cao tuổi không có lương hưu hoặc BHXH hằng tháng. Bên cạnh đó, Nhà nước còn có chính sách huy động các nguồn lực xã hội đóng thêm để các đối tượng này có mức hưởng cao hơn; điều chỉnh giảm dần độ tuổi hưởng trợ cấp hưu trí xã hội phù hợp với khả năng của ngân sách. Điều này cho thấy, Nhà nước ngày càng quan tâm đến việc đảm bảo an sinh cho người dân thông qua việc hướng tới không có người cao tuổi nào trong xã hội không có lương hưu.
Linh hoạt, phù hợp thực tế
Trước đây, theo Luật BHXH, NLĐ phải có tối thiểu 20 năm đóng BHXH mới có cơ hội hưởng lương hưu. Theo các chuyên gia, quy định thời gian dài như vậy dẫn đến việc nhiều NLĐ khu vực phi chính thức hoặc nông dân khó có điều kiện chờ đợi để được hưởng lương hưu. Tuy nhiên, lần này với lộ trình giảm dần từ 20 năm xuống còn 15 năm, thậm chí tiến tới còn 10 năm đóng BHXH, nhóm NLĐ này đều có thể có lương hưu từ quỹ BHXH để bảo đảm cuộc sống tuổi già.
 
Sau một thời gian tiếp tục tham gia BHXH tự nguyện, ông Chu Phương Lâm- bên trái (Nghệ An) đã được nhận lương hưu
Cũng theo các chuyên gia, hiện nay, chính sách BH thất nghiệp chưa thực sự gắn với thị trường, chưa phù hợp với khu vực phi chính thức; vẫn còn nặng về giải quyết trợ cấp thất nghiệp, chứ chưa chú ý thoả đáng đến các giải pháp phòng ngừa theo như thông lệ quốc tế (hỗ trợ duy trì việc làm để tránh sa thải lao động; chi trả trợ cấp thất nghiệp đảm bảo NLĐ có thu nhập trong lúc chưa có việc làm; hỗ trợ NLĐ nhanh chóng quay trở lại thị trường lao động thông qua các hoạt động đào tạo dạy nghề). Do đó, các chuyên gia cũng khuyến cáo, Việt Nam nên học tập kinh nghiệm của Hàn Quốc và Nhật Bản trong việc hỗ trợ một phần tiền lương từ quỹ BH thất nghiệp cho một số DN để giữ chân NLĐ tại những DN này. Đây chính là sự chia sẻ giữa DN sử dụng nhiều lao động và DN sử dụng ít lao động, DN có nguy cơ sa thải nhiều lao động và DN nguy cơ ít sa thải lao động. Theo đó, Việt Nam chỉ cần hỗ trợ DN mỗi tháng 1 triệu đồng/NLĐ thì với khoảng 6.000 tỉ đồng/năm, sẽ giữ chân được 0,5 triệu NLĐ trên thị trường. Như vậy, mức chi phí này sẽ thấp hơn, nếu chúng ta sử dụng để chi trả BH thất nghiệp.
Liên quan việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu, ông Bùi Sỹ Lợi- Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội cho rằng, già hóa dân số là thành tựu của con người, thể hiện chất lượng y tế ngày càng tăng. Song nếu chúng ta không chủ động có kế hoạch tài chính thông qua hệ thống BHXH để bảo đảm tuổi già trong dài hạn thì sẽ gặp rất nhiều thách thức trong tương lai. Các nước đều có kế hoạch điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu, nhưng việc điều chỉnh phải có tầm nhìn dài hạn, không có quốc gia nào ra quyết định điều chỉnh ngày hôm nay mà lại áp dụng cho ngày mai hoặc năm sau, mà đều có lộ trình phù hợp với cơ cấu dân số, độ tuổi của từng quốc gia, nhất là phải hành động rất quyết liệt. Thực tế có một số nước, do chậm cải cách tuổi nghỉ hưu nên đã ảnh hưởng đến thị trường lao động cũng như sự ổn định chính trị.
Cũng theo ông Lợi, Việt Nam có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất khu vực. Do vậy, đã đến lúc chúng ta nên điều chỉnh tuổi nghỉ hưu cho phù hợp và duy trì sự ổn định của thị trường lao động. Hiện nay, chúng ta đang thặng dư lao động do cơ cấu dân số vàng nhưng tất cả các nghiên cứu chỉ ra, tới năm 2040, chúng ta sẽ bắt đầu thiếu lao động và chỉ có 20 năm để chuẩn bị kế hoạch điều chỉnh bù đắp cho sự thiếu hụt này. Chính vì vậy, Trung ương đưa thời điểm điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu vào năm 2021 là rất phù hợp với đất nước và thông lệ quốc tế.
Về mặt lộ trình, ILO đã thống kê, việc điều chỉnh tuổi nghỉ hưu của tất cả các nước đều cần trung bình tới 20 năm. Việc điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu nhằm bảo đảm tính ổn định xã hội cũng như ổn định tài chính. Nếu năm 2015 cứ 6 người trong độ tuổi lao động thì có 1 người ra khỏi độ tuổi lao động; nhưng vào năm 2040 tương quan này sẽ chỉ còn 2- 1. Như vậy, nếu chúng ta vẫn giữ quyền lợi hưu trí và độ tuổi nghỉ hưu như hiện nay thì muốn hưởng lương hưu, con cháu phải tăng mức độ đóng góp gấp 3 lần. Đặc biệt, nếu không cải cách tuổi nghỉ hưu cũng đồng nghĩa với việc chúng ta đang đẩy gánh nặng cho thế hệ con cháu trong tương lai. Các chuyên gia quốc tế cũng chỉ rõ, vào năm 2040, hầu hết các nước đều có tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ tiệm cận bằng nhau- đây là xu thế bảo đảm bình đẳng giới, bảo đảm tài chính trong dài hạn cho người nghỉ hưu (người cao tuổi).
 Nguyệt Hà
 'Báo Bảo hiểm xã hội' 

 
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây